content top

Lo thí sinh thi Đại học giảm vì… năm Dần

Làm bằng đại học tại tphcm – Vì học sinh lớp 12 năm nay sinh năm 1998 (Mậu Dần), nên nhiều trường ĐH ngoài công lập đang khá lo lắng lượng thí sinh xét tuyển vào trường sẽ bị giảm đột ngột. Theo thạc sĩ Nguyễn Quốc Anh, Trưởng phòng Tuyển sinh – Truyền thông, Trường ĐH Công nghệ TP.HCM, trong quá trình đi tư vấn tuyển sinh vừa qua, trường nhận thấy số lượng học sinh (HS) lớp 12 giảm khá nhiều. Ở TP.HCM, khối các trường tư thục, trừ THPT Nguyễn Khuyến, các trường THPT Trương Vĩnh Ký, Hồng Hà… mọi năm có khoảng 12 lớp thì giảm hẳn xuống chỉ còn 5 – 6 lớp 12. Theo tính toán của Trường ĐH Công nghệ TP.HCM, HS lớp 12 năm nay giảm khoảng 8 – 8,5%, nghĩa là khoảng 70.000 – 80.000 người. Nhiều người nhận định là do HS lớp 12 năm nay sinh năm Mậu Dần, là năm ít phụ huynh sinh con hơn do quan niệm dân gian sinh con năm này không tốt, dẫn đến số HS giảm hẳn. Tại TP.HCM, vào thời điểm thi vào lớp 10 (năm học 2013 – 2014), ở mỗi quận huyện, lứa HS năm Dần nói trên đều giảm khoảng 500 đến 1.000 HS so với những năm học trước. Năm học này, các trường THPT, trung tâm GDTX đều cho biết phải giảm số lượng lớp học hoặc sĩ số HS mỗi lớp. Thông tin này trùng khớp với số liệu Vụ Kế hoạch – Tài chính, Bộ GD-ĐT cung cấp. Theo đó, HS lớp 12 năm 2014 (dự thi THPT năm 2015) trên cả nước là 807.922 người. Chưa có số liệu chính thức HS lớp 12 năm 2015 – 2016, nhưng HS lớp 11 năm 2014 – 2015 là 771.210. Như vậy, sơ bộ HS năm nay đã giảm khoảng 40.000 so với năm trước. Cũng theo thạc sĩ Nguyễn Quốc Anh, với cách tuyển sinh như năm 2015, các trường ĐH công lập hầu như tuyển sinh ổn định. Vì vậy, năm nay dù HS có giảm cũng không ảnh hưởng đến các trường này. Tuy nhiên, số lượng giảm còn lại sẽ chia cho các trường ĐH ngoài công lập. Hồ sơ nộp vào các trường ngoài công lập sẽ ít hơn so với mùa tuyển sinh năm 2015. Thạc sĩ Lâm Thành Hiển, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Lạc Hồng, cũng cho biết vừa rồi trường có làm thống kê ở các tỉnh mà trường thường đi tư vấn tuyển sinh thì số liệu cũng cho thấy học trò giảm. Trường tính toán năm nay HS...

Read More

Bộ não được ‘lập trình’ để học ngoại ngữ một cách tự nhiên

Làm bằng đại học – Đa số chúng ta đều cho rằng việc học ngoại ngữ hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm quan sát, ghi nhớ từ ngữ, ngữ pháp. Tuy nhiên, theo Medical Daily, các nhà nghiên cứu từ Đại học New York (Mỹ) đã chứng minh điều ngược lại. Gần đây, các nhà nghiên cứu từ Đại học New York (Mỹ) đã sử dụng công nghệ để chứng minh lý thuyết của Chomsky là thực tế. Theo đó, những người tham gia thí nghiệm đã được nghe những câu và cụm từ khác nhau bằng tiếng Anh và tiếng Trung Quốc. Những câu trong thí nghiệm được thiết kế đặc biệt để mọi tín hiệu về ngữ điệu giọng nói, hay các tín hiệu để nhận biết về mặt ngữ pháp đều bị mất đi. Điều này đảm bảo các dấu hiệu duy nhất về ngôn ngữ, ngữ pháp sẽ đến từ chính tâm trí riêng của từng đối tượng, không phải bằng câu từ. Từ những năm 1960, nhà ngôn ngữ học Noam Chomsky đã đưa ra một ý tưởng mang tính cách mạng, đó là chúng ta được sinh ra với khả năng bẩm sinh về việc học ngoại ngữ. Nói một cách khác, ngôn ngữ và việc học ngoại ngữ, ngữ pháp là một bản năng cơ bản, dựa trên tính năng xử lý ngôn ngữ nội bộ của não. Tuy nhiên, quan điểm này vào thời điểm đó đã vấp phải nhiều ý kiến trái chiều. Tiến sĩ David Poeppel, nhà nghiên cứu của dự án, cũng sớm nhận biết được sẽ có những ý kiến trái chiều được xây dựng trên quan điểm phổ biến của nhiều người cho rằng học ngôn ngữ, ngữ pháp bằng cách sử dụng những dấu hiệu về ngữ điệu, ghi nhớ từ ngữ. “Tuy nhiên, thông qua thí nghiệm, chúng tôi chứng minh được rằng việc hiểu biết một ngôn ngữ có thể đạt được trong trường hợp không tồn tại những dấu hiệu phổ biến trên”, ông cho biết. Các nhà nghiên cứu đã đo hoạt động của não dựa vào hai công cụ là: máy đo từ não và máy đo ghi lại điện vỏ não. Kết quả cho thấy hoạt động của não thay đổi tùy thuộc vào việc đối tượng được nghe một câu, cụm từ hay danh sách các từ khác nhau. Các đối tượng tham gia thí nghiệm cũng có thể sử dụng chính bản năng ngữ pháp có trong đầu để nhận dạng chính xác ngôn ngữ khi các tín hiệu về kiến thức được học đều bị lược...

Read More

“Mộng du bằng cấp”

Làm bằng đại học – Con trai đầu của tôi có bằng thạc sĩ kinh tế hẳn hoi, nhưng vẫn nằm dài ăn bám bố mẹ tới gần ba năm nay. Có lẽ nguyên nhân chủ yếu trong sự thua cuộc của con, theo tôi nghĩ, là do con quá sĩ diện bằng cấp. Sau nhiều lần bị đánh trượt trong các cuộc xét tuyển của các công ty, tập đoàn lớn nhỏ, tôi khuyên con nên dẹp bỏ bớt tiêu chí cá nhân đi, rằng cứ kiếm được việc thì chịu khó làm, chấp nhận mức lương đủ sống, rồi tích lũy kinh nghiệm, phấn đấu dần dần. Nhưng con lại không nghĩ thế, và rồi mỗi lần nghỉ việc, con lại nằm ở nhà… chờ thời, như lời con hay nói. Lần nào thất bại con cũng nói: “Chỗ làm ấy lương lậu chết đói, nên con chả ham”. Con cứ “mộng du bằng cấp” như vậy. Suốt ngày con kêu ca buồn chán, thất vọng về xã hội khắc nghiệt, rằng thời buổi này kiếm được việc làm đúng chuyên môn, xứng đáng với bằng cấp khó như mò kim đáy bể. Có lần con nói: “Ngày còn là sinh viên, con cứ ngỡ tốt nghiệp có tấm bằng loại giỏi thì tha hồ được lựa chọn, mời chào. Nhưng ra trường đúng là không phải như con từng nghĩ bố ạ”. Con nói thế, nhưng nhất định không chịu làm công việc không như ý, bởi lý do “sợ mất mặt” vì có bằng thạc sĩ mà phải làm mấy việc đó thấy… nhục! Sự ảo tưởng và kén chọn, theo tôi nghĩ, là căn bệnh không chỉ con tôi mắc phải, mà là bệnh chung của một bộ phận người trẻ tuổi. Tôi luôn khuyên con thà làm một anh nhân viên còn hơn làm anh thạc sĩ, chỉ biết nằm nhà ôm tấm bằng loại giỏi của mình và ấp ủ những dự định chẳng thể thành hiện thực. Con lại có suy nghĩ ngược lại, rằng có bằng cấp thì rồi cũng sẽ có ngày được ngồi vào vị trí ngon, xứng tầm. Sự ngộ nhận về khả năng của mình đang đánh bại con từng ngày. Con đề cao tấm bằng mà quên mất việc tu chí, rèn giũa, tiếp thu. Mỗi ngày con ngủ dậy lúc 9g sáng, rồi ôm máy tính ở nhà để “chờ thời”, khiến người cha như tôi khá là nóng ruột. Vì hiếu thắng, lúc nào cũng muốn làm một công việc oai, thu nhập cao ngất ngưởng nên chẳng công ty nào con trụ được quá ba tháng. Con...

Read More

Buông ra 
mới nắm được

Cái sai lầm của ngành giáo dục nước ta có lẽ bắt đầu từ suy nghĩ “biết tuốt” nên lúc nào cũng lo toan, ôm đồm, bao biện và làm hết mọi chuyện Nếu được góp ý cho Bộ GD-ĐT làm sao để làm bằng đại học giải quyết trọn vẹn những vấn đề nổi cộm của ngành giáo dục đang gây băn khoăn cho xã hội, chỉ xin nói một ý thôi: đó là bộ nên buông bỏ mong muốn ôm đồm hết mọi chuyện về mình, hãy lùi lại, tin tưởng ở năng lực chưa bao giờ được khai thác của các thành phần khác trong xã hội và để cuộc sống tự giải quyết các vấn đề nó đặt ra. Sau khi đã tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông cho học sinh toàn quốc, Bộ GD-ĐT nên để các trường đại học xây dựng và thật sự triển khai phương án tuyển sinh riêng cho mỗi trường, trường nào chọn đủ sinh viên cho mình rồi thì cứ công bố rồi khóa sổ, để còn lo chuyện dạy và học. Kinh nghiệm thế giới cho thấy các tiêu chí tuyển chọn sinh viên cho trường đâu chỉ dựa vào điểm số. Từng có những trường hợp những trường danh tiếng từ chối học sinh có điểm cao, thành tích học tập xuất sắc để chọn học sinh có điểm thi thấp hơn nhưng họ nghĩ phù hợp với họ hơn. Nhiệm vụ của các trường đại học là cạnh tranh nhau giành học sinh xuất sắc về cho mình – thế thì cứ để họ quảng bá, tiếp thị, mời chào, công bố kết quả tuyển sớm nhất. Từng trường đại học sẽ biết học sinh nào phù hợp với ngành nghề họ đào tạo nhất nên cứ để họ yêu cầu học sinh viết thư, viết luận, viết trình bày hay thậm chí phỏng vấn gặp gỡ trực tiếp. Chính cái đó sẽ giúp hai bên gặp nhau tốt nhất chứ không phải phần mềm thần diệu nào cả. Biên soạn chương trình giáo dục phổ thông cũng nên thực hiện theo tinh thần lùi lại như thế. Nếu thật sự cầu thị muốn công luận đóng góp vào bản dự thảo chương trình, bộ nên làm gọn lại dự thảo, soạn ngay vào cái nội dung chương trình tổng thể đó. Các phần như quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt, định hướng, điều kiện thực hiện đâu phải là chương trình, cứ đưa vào phụ lục, ai muốn hiểu dự thảo được biên soạn trên các nền tảng nào thì mới vào đọc....

Read More

Cần lắm sự cảm thông, chia sẻ

Giáo viên hiện nay có rất nhiều áp lực, bởi chủ trương của Bộ GD-ĐT đang thực hiện là lấy học sinh làm trung tâm. Cứ thử hình dung trong một gia đình có 1 – 2 đứa con nhưng nhiều lúc chúng ta còn bất lực, muộn phiền và cáu gắt dù đó là đứa con chúng ta sinh ra, hiểu nó từng đường tơ kẽ tóc. Làm bằng đại học tại Hà Nội Trong lúc đó thầy cô có cả mấy trăm “đứa con” một lúc, cũng là chừng ấy tính cách khác nhau. Nếu là thầy cô chủ nhiệm thì còn có thời gian gần gũi và biết được hoàn cảnh, tính nết của học trò. Nhưng những thầy cô bộ môn mỗi tuần chỉ có vài tiết, nhiều môn chỉ có một tiết/lớp thì rất khó hiểu được học trò của mình. Trong khi bây giờ chúng ta dành cho học sinh quá nhiều đặc ân. Học sinh không còn kính trọng và sợ thầy cô như ngày trước nữa. Trả bài học sinh một lần, hai lần và thậm chí nhiều lần sau nữa các em vẫn không thuộc bài, thậm chí có em còn thách thức thầy cô muốn cho bao nhiêu điểm thì cho! Gặp những trường hợp như vậy liệu chúng ta có giữ mãi được sự bình tĩnh và không nóng nảy không? Nhưng chỉ một lời nói lớn, nói nặng học sinh là vi phạm đạo đức nhà giáo, bị dư luận lên án… Chúng tôi đã từng chứng kiến chuyện buồn của một cô giáo cùng trường đã có gần 30 năm đứng lớp, chỉ còn hai năm nữa là về hưu. Trong lớp của cô có một học sinh đã nhiều lần không thuộc bài. Cô đã khuyên nhủ, động viên em này nhiều lần nhưng không được, sau đó cô dọa rằng nếu em cứ học như vậy là cuối năm cô cho ở lại lớp. Dọa như vậy là để học sinh chăm lo học bài, nhưng không ngờ em học sinh này không đi học nữa. Mẹ của em đã đến trường gặp hiệu trưởng và đòi làm đơn thưa lên phòng giáo dục. Cuối cùng, ban giám hiệu phải giảng hòa và cô giáo phải xin lỗi phụ huynh. Thật đau lòng khi thiện ý tốt đẹp lại phải cúi đầu trước suy nghĩ non nớt của học trò. Giọt nước mắt bất lực lăn dài trên gương mặt người giáo viên già, vì những quy định khắt khe của ngành. Ngày nay nhiều gia đình cưng chiều con. Phụ huynh coi con mình như “ông trời con”,...

Read More

​Trường ĐH phải thay đổi vì sinh viên “thế hệ i”

Làm bằng đại học – Đó là ý kiến của PGS.TS Lê Khắc Cường – trưởng khoa Việt Nam học, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn – tại Hội thảo khoa học diễn ra sáng 5-11. Hội thảo “Hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật với công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo ở đại học” do Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM) tổ chức với sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học đến từ các trường ĐH phía Nam. Theo PGS.TS Lê Khắc Cường, các trường ĐH trên thế giới đang thay đổi vì thế hệ sinh viên hiện nay là “thế hệ i” (i-generation) hay “công dân kỹ thuật số” (digital citizen), thế hệ sống, làm việc, sinh hoạt với iphone, ipad, smartphone, tablet, email, facebook. Ông Cường nói sinh viên cần một môi trường học tập khác với thế hệ cha ông, môi trường trực tuyến và cổng thông tin điện tử, với những phần mềm chuyên dụng, thư viện số, với cách nộp bài làm/bài thi/bài kiểm tra trực tuyến, với việc sử dụng hệ thống phát hiện những bài kiểm trả/bài thi/luận văn/luận án đạo văn hoặc trích dẫn trái quy định, mập mờ… “Với một trường đào tạo khoa học cơ bản, tài chính không thật mạnh thì đào tạo trực tuyến là một hướng đi hết sức phù hợp và khôn ngoan” – ông Cường nói. Thiếu thốn nhưng sử dụng lãng phí Theo PGS.TS Nguyễn Minh Hòa – trưởng khoa đô thị học Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, trong bối cảnh hiện nay, giáo dục ĐH phải thay đổi cả nội dung và hình thức. Trong sự thay đổi đó, hệ thống cơ sở vật chất đóng vai trò vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, tại hội nghi5, các nhà khoa học cho rằng trong các nguồn lực phục vụ hoạt động giảng dạy, nghiên cứu tại trường ĐH ở VN, nguồn lực cơ sở vật chất được xem là khá kém cỏi so với nhiều nước khác, kể các các nước trong khu vực Đông Nam Á. “Với những mặt bằng nhỏ hẹp, trang thiết bị lạc hậu, sẽ rất khó khăn để nói đến chuyện nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và hội nhập” – PGS.TS Khắc Cường nói. Ông Cường đánh giá ngoài chuyện thiếu thốn do những nguyên nhân khách quan thì khá nhiều phòng ốc, trang thiết bị, phần mềm chưa phát huy hiệu quả do sử dụng lãng phí, chưa thống nhất việc quản lý vào một đầu mối. Ông Cường nêu dẫn chứng phòng nghiên cứu đầu tư cho khoa...

Read More
content top
error: Content is protected !!